Tin tức

10 Tháng 11 2016

RPS ASA ra mắt phiên bản mới version 7 của OILMAP

Phiên bản đầu tiên của OILMAP đã được sử dụng từ hơn 20 năm trước và cho đến tận bây giờ vẫn được  sử dụng rộng rãi trên toàn cầu bởi các công ty chuyên về dầu khí và nhiều chính phủ quốc tế. 

Phiên bản đầu tiên của OILMAP đã được sử dụng từ hơn 20 năm trước và cho đến tận bây giờ vẫn được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu bởi các công ty chuyên về dầu khí và nhiều chính phủ quốc tế. Việc hỗ trợ ứng cứu sự cố tràn dầu, lên kế hoạch được cấp phép và thực hiện thành công tại hơn 100 quốc gia. Sự cố tràn dầu tại giàn khoan Deep Water Horizon năm 2010 đã chuyển giao nhu cầu về mô hình sự cố tràn dầu tràn dầu, nhất là khả năng quản lý khai thác liên tục tại vùng nước sâu, cùng với nó là gói dữ liệu môi trường phức tạp. Các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu tại RPS ASA đã kết hợp nhiều bài học và kĩ thuật mới sang OILMAP thế hệ mới nhất này.

Phiên bản mới nhất version 7 của OILMAP bao gồm nhiều nâng cấp, thêm nhiều chức năng để giúp nâng cao khả năng ứng biến sự cố tràn dầu, khoan, đánh giá ảnh hưởng rủi ro, và lên kế hoạch dự phòng. Các nâng cấp gồm có các công cụ như vertical Cross Section và Time Series giúp thể hiện tốt hơn tính chất của dầu trong cột nước theo không gian và thời gian. Tài liệu này mô tả những chức năng mới, phong phú có trong OILMAP v7.

1.1 Sự tương thích với hệ điều hành
Một trong những chức năng nổi bật của Version 7 là tất cả những ứng dụng của nhà cung cấp RPSASA MAP, như OILMAP, SARMAP, và CHEMMAP hiện nay đã tương thích với Windows 10.

OILMAP hiện tại đã được hỗ trợ trên nền tảng Microsoft Windows: Windows 10, 8, 7, và Windows Server 2012.


1.2 OILMAP v7 Modules
Surface module               Mô phỏng hành vi của oil tràn trên mặt biển
Subsurface module          Mô phỏng dầu phát ra từ nguồn dưới mặt biển
Deep module                   Mô phỏng sự cố bùng phát, bao gồm ứng dụng phân tán tại đáy biển
Backtrack module            Đánh giá nguồn tràn không cụ thể (truy hồi)
Stochastic module           Tính toán sự phân bố chắc chắn của dầu trong nước và ngoài khơi
Airmap module                Tính toán sự lan truyền trong không khí của thành phần dầu nhẹ từ sự cố tràn dầu.
Land module                   Đánh giá sự vận chuyển và tiêu biến của dầu phát ra từ đất liền qua mạng lưới sông

oilmap modules
2 OILMAP v7 - Các nâng cấp cho giao diện người dùng
2.1 Điểm qua các nâng cấp của Surface (2D) Module

  •  Hằng số chiều sâu đáy hiện có sẵn cho phát ra từ bề mặt
  •  Có thể hình ảnh hóa và điều tra các hạt bên dưới bề mặt
  •  Time series của lớp váng dầu cho từng chỗ cụ thể và giá trị đỉnh cho toàn thể mô
  •  Cross Section View hiện là công cụ có sẵn cho hiển thị các hạt dưới bề mặt. Công cụ này có thể được tìm  thấy tại Model Output -> Section View. Di chuột trên hạt trên phần section view để hiển thị độ sâu của hạt trong góc trên bên phải  của cửa sổ.

section view

3 Dữ liệu cơ sở dầu
OILMAP bao gồm dữ liệu cơ sở mới nhất về dầu từ RPS ASA. Master database (cơ sở dữ liệu chung) này chứa tất cả các thông tin tính chất cần thiết của dầu (oil) để có thể chạy được mô hình tràn dầu. Mặc dù người dùng đã bị chặn việc sửa Master Database , vẫn có thể sao chép 1 loại dầu sang hệ cơ sở dữ liệu cá nhân để chỉnh sửa và tùy chọn theo ý thích. Người sử dụng cũng có thể tạo ra những loại dầu mới trong cơ sở dữ liệu cá nhân qua giao diện người dùng.
Cơ sở dữ liệu Adios database đã hoàn toàn được bỏ khỏi mẫu input của mô hình. Các loại dầu từ cơ sở dữ liệu này có thể không còn được sử dụng trong mô hình cũng như một số trong đó không còn chứa các thông tin tính chất cần thiết để chạy mô hình nữa.

Cơ sở dữ liệu dầu Adios hiện vẫn còn xem và tham khảo được trong menu Data. Để chạy được mô hình với một loại dầu tương tư như 1 dầu Adios, cần sao chép nó từ cơ sở dữ liệu chung vào cơ sở dữ liệu cá nhân. Điều chỉnh tính chất của dầu mới nhập với các giá trị sẵn có trong cơ sở dữ liệu dầu Adios. Dầu mới này có thể ngay lập tức được dùng như một proxy oil trong mô hình.

4 Các update của OILMAP V7
OILMAP v7 trải qua sự thay đổi chính, cấp nhật mới bao gồm các algorithms mới, tích hợp các năm áp dụng nghiên cứu và củng cố kinh nghiệm từ các sự kiện có thật như vụ tràn dầu tại giàn khoan Deep Water Horizon (DWH) ở vịnh Mexico. OILMAP hiện có mô hình tràn dầu toàn diện 3D có thể truy hồi nhiều thành phần hydrocarbon phong phú trong môi trường nước sạch, trong môi trường biển và không khí. Mô hình tràn dầu mới có tỉ lệ phân hủy dựa trên nghiên cứu thực hiện theo kết quả bởi sự kiện DWH.


4.1 Cải tiến trong thuật toán của mô hình

  •  OILMAP chạy nhanh hơn với sự cải tiến về thuật toán của hạt dưới bề mặt subsurface particles
  •  Cửa sổ trạng thái màu xanh biển xuất hiện trong khi chạy mô hình được loại bỏ để nâng cao thời gian thuật toán của mô hình.
  •  Các chức năng mới của mô hình tràn dầu được nhúng chức năng đa lõi. Không cần thêm thành phần nào khác. Cả mô phỏng xác định và ngẫu nhiên đều tận dụng toàn bộ các nhân (cores) có sẵn trong máy tính.
  •  Nếu người dùng hủy bỏ một mô phỏng trong khi mô hình vẫn đang chạy, kết quả tính đến thời điểm đó sẽ vẫn được hiển thị trong GUI

 

4.2 Mô hình Algorithms mới và được nâng cấp

  •  File thông tin kịch bản sẽ toàn diện, đầy đủ thông tin hơn về hệ số trong input. File này  sẽ được tìm thấy tại Model Output -> Scenario Information.
  •  Mô hình tràn dầu mới mong chờ người dùng cung cấp thông tin độ sâu, thời tiết cho sự cốtràn tại tầng mặt hay tầng sub-surface. Đo chiều sâu đáy có thể được ghi lại bằng nhiều cách: người dùng Surface Module ghi lại chiều sâu đồng bộ (’đáy phẳng’). Hay là có thể đưa vào từng phần dữ liệu chiều sâu đáy từ một file (currents or GEBCO bathymetry).
  •  Người dùng hiện đã có thể ghi lại giá trị độ mặn cho mô hình tràn.
  •  Độ nhớt mặt của dầu có thể tính đến trường hợp nước bị cuốn vào trong dầu (nhũ tương dạng nước trong dầu).
  •  Dầu tầng áp mặt không làm tăng độ nhớt mà là do sự tạo thành của nhũ tương dạng nước trong dầu cho đến khi bề mặt bị phủ dầu. Dầu bề mặt bị dàn trải ra và bị cuốn bởi gió và sóng.
  •  Sự cuộn theo chiều dọc của lớp dầu nổi bị khóa khi độ nhớt bề mặt tiến đến lớn nhất, khoảng 10,000cP .
  • Mô hình tràn dầu có tỉ lệ tự phân hủy mới update dựa vào nghiên cứu về sự cố giàn khoan Deep Water Horizon 6 năm trước. Tỉ lệ tự phân hủy được cài đặt trong cơ sở dữ liệu cho phần còn lại và khó mã hóa trong mô hình cho phần bay hơi được.
  •  Độ dày bé nhất của “oil slick” hiện giờ là chức năng của độ nhớt và tính bởi mô hình “on the fly”. Trước đây, nó là một tập hợp các giá trị trong cơ sở dữ liệu dầu.
  • Độ dày của lớp dầu được tính dựa vào đường kính phân tử dầu, hơn là lan truyền Gaussian.

 

Để tìm hiểu chi tiết và đầy đủ hơn, vui lòng tải tài liệu đính kèm tại link dưới đây.